|
||||
| Hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế TNCN |
|
Ngày 27/03/2009, Bộ tài chính đã ban hành Thông tư số 62/2009/TT-BTC về việc hướng dẫn sửa đổi thông tư số 84/2008/TT-BTC – Hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế TNCN và nghị định số 100/2008/NĐ-CP. Các nội dung được sửa đổi chủ yếu như sau:
a) Khoản trợ cấp chuyển vùng một lần đối với người nước ngoài đến cư trú tại Việt Nam. Mức trợ cấp được tính trừ căn cứ trên hợp đồng lao động hoặc thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động.
b) Khoản tiền mua vé máy bay khứ hồi do đơn vị sử dụng lao động chi trả hộ
(hoặc thanh toán) cho người lao động là người nước ngoài về phép mỗi
năm một lần. Căn cứ để xác định là hợp đồng lao động và giá ghi trên vé
máy bay từ Việt
c) Khoản tiền học phí cho con của người nước ngoài học tại Việt
a)
Khoản tiền thuê nhà do đơn vị sử dụng lao động chi trả hộ: tính vào thu
nhập chịu thuế theo số thực tế chi trả hộ nhưng không vượt quá 15% tổng
thu nhập chịu thuế (chưa bao gồm tiền thuê nhà).
b)
Đối với khoản chi về phương tiện phục vụ đưa đón tập thể người lao động
từ nơi ở đến nơi làm việc và ngược lại thì không tính vào thu nhập chịu
thuế của người lao động; trường hợp chỉ chuyên đưa đón riêng từng cá
nhân thì phải tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân được đưa đón.
c)
Đối với các khoản phí hội viên như thẻ hội viên sân gôn, sân quần vợt,
thẻ sinh hoạt các câu lạc bộ văn hoá nghệ thuật, thể dục thể thao...
nếu ghi đích danh cá nhân hoặc nhóm cá nhân sử dụng thì tính vào thu
nhập chịu thuế của từng cá nhân sử dụng. Trường hợp được sử dụng chung,
không ghi tên cá nhân hoặc nhóm cá nhân sử dụng thì không tính vào thu
nhập chịu thuế.
d)
Đối với các khoản chi dịch vụ khác phục vụ cho cá nhân trong hoạt động
chăm sóc sức khoẻ, vui chơi, thể thao, giải trí thẩm mỹ... nếu chi trả
ghi rõ tên cá nhân được hưởng thì tính vào thu nhập chịu thuế của cá
nhân. Trường hợp không ghi tên cá nhân được hưởng mà chi chung cho tập
thể người lao động thì không tính vào thu nhập chịu thuế.
đ)
Đối với khoản chi trả hộ tiền đào tạo nâng cao trình độ, tay nghề cho
người lao động phù hợp với công việc chuyên môn của người lao động hoặc
theo kế hoạch của đơn vị sử dụng lao động thì không tính vào thu nhập
của người lao động. Trường hợp đào tạo không đúng chuyên môn nghiệp vụ
hoặc không nằm trong kế hoạch của đơn vị thì phải tính vào thu nhập
chịu thuế của người lao động.
e)
Đối với khoản tiền ăn giữa ca: không tính vào thu nhập chịu thuế của
người lao động nếu người sử dụng lao động trực tiếp tổ chức bữa giữa ca
cho người lao động.
Trường
hợp, đơn vị chi trả thu nhập không trực tiếp tổ chức bữa ăn ca mà chi
tiền ăn ca trực tiếp cho người lao động thì không tính vào thu nhập
chịu thuế thuế của người lao động nếu mức chi phù hợp với hướng dẫn của
Bộ Lao động Thương binh và Xã hội. Trường hợp chi cao hơn mức hướng dẫn
của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội thì phần chi vượt mức phải tính
vào thu nhập chịu thuế của người lao động.
Mức
chi cụ thể áp dụng đối với doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức, đơn vị
được phép hoạt động kinh doanh thuộc cơ quan hành chính, sự nghiệp,
đảng, đoàn thể, các hội không quá mức quy định của Bộ Lao động, Thương
binh và Xã hội. Đối với các doanh nghiệp ngoài nhà
nước và các tổ chức khác, mức chi do thủ trưởng đơn vị thống nhất với
chủ tịch công đoàn quyết định nhưng mức tối đa cũng không vượt quá mức
áp dụng đối với doanh nghiệp nhà nước.
f)
Đối với khoản khoán chi văn phòng phẩm, công tác phí, điện thoại, trang
phục,... không tính vào thu nhập chịu thuế nếu mức khoán chi phù hợp
với quy định của Nhà nước hiện hành. Mức khoán chi áp dụng đối với từng
trường hợp như sau:
-
Đối với cán bộ, công chức và người làm việc trong các cơ quan hành
chính sự nghiệp, đoàn thể: mức khoán chi áp dụng theo văn bản hướng dẫn
của Bộ Tài chính.
-
Đối với người lao động làm việc trong các tổ chức kinh doanh, các văn
phòng đại diện: mức khoán chi áp dụng phù hợp với mức xác định thu nhập
chịu thuế thu nhập doanh nghiệp theo các văn bản hướng dẫn thi hành
Luật thuế thu nhập doanh nghiệp.
- Đối với người lao động làm việc trong các tổ chức quốc tế, các văn phòng đại diện của tổ chức nước ngoài: mức khoán chi thực hiện theo quy định của Tổ chức, văn phòng đại diện của tổ chức nước ngoài.
Riêng
trường hợp có thu nhập từ đại lý bán hàng, thu nhập từ dịch vụ thì nếu
cá nhân đó chỉ có 1 nguồn thu nhập duy nhất là từ các khỏan này thì
doanh nghiệp phải ước tính được thu nhập của các cá nhân này xem có
vượt quá 48T/năm (đối với trường hợp độc thân) hay không thì mới tiến
hành khấu trừ 10% thu nhập tuy nhiên cá nhân này phải tiến hành làm
bảng cam kết theo mẫu số 23/BCK-TNCN để nộp lại cho cơ quan chi trả thu
nhập để làm hồ sơ chứng minh. Doanh nghiệp sẽ tạm không khấu trừ 10%
thu nhập cho trường hợp này nhưng vẫn hết năm vẫn phải lập danh sách
thông báo cho cơ quan thuế biết;
Set as favorite
Bookmark
Email This
Hits: 3702 Comments (0)
![]() Write comment
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:
|
| Lần cập nhật cuối ( Thứ tư, 29 Tháng 7 2009 11:45 ) |






